PDA

View Full Version : 10 nước có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất thế giới



unicorn
21-Jun-2012, 12:57 PM
Dựa trên số liệu năm 2011 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), CNBC đưa ra danh sách các quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong 50 nền kinh tế lớn nhất thế giới.1. Nam Phihttp://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bd/83/64/1_south_africa.jpgTỷ lệ thất nghiệp 2011: 24,7%
Tăng trưởng GDP 2011: 3,1%
Kể từ năm 1997, tỷ lệ thất nghiệp tại Nam Phi, nền kinh tế lớn nhất châu lục đen, luôn ở mức trên 20%. Theo ông Sparreboom, chuyên gia kinh tế cấp cao tại ILO, nguyên nhân chính của trình trạng này là nạn phân biệt chủng tộc trong lịch sử đã tạo nên một thị trường việc làm kiểu “chợ đen” tại Nam Phi.
Trong quý I/2012, tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia này lên tới 25,2%. Thất nghiệp trong các ngành xây dựng, khai khoáng và khai thác đá cao hơn hẳn so với ngành sản xuất và bán lẻ. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nam Phi vẫn ở mức dưới 7%.
Theo Ngân hàng Trung ương Nam Phi, thất nghiệp cao cũng khiến tỷ lệ nợ của các hộ gia đình tại nước này tăng cao, ở mức 75% thu nhập khả dụng. Các chuyên gia kinh tế e ngại rằng tình hình nợ tại Nam Phi sẽ trở nên xấu đi khi các ngân hàng đẩy mạnh cho vay không đảm bảo.
2. Tây Ban Nhahttp://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bd/83/64/2_spain.jpgTỷ lệ thất nghiệp 2011: 21,6%
Tăng trưởng GDP 2011: 0,7%
Tây Ban Nha là nền kinh tế lớn thứ tư tại khu vực đồng tiền chung và cũng là nước có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất tại đây. Nước này lâm vào suy thoái kinh tế vào giữa năm 2008 do đổ vỡ bong bóng bất động sản và ngành dịch vụ. Khủng hoảng khiến lượng lao động bị sa thải tăng gấp đôi.
Trong quý I/2012, tỷ lệ thất nghiệp tại nước này lên tới 21,3%, cao hơn gấp 2 lần so với mức trung bình tại châu Âu. 4,9 triệu trên tổng số 45 triệu lao động không có việc làm khiến tỷ lệ thất nghiệp tại Tây Ban Nha lên cao nhất trong 14 năm.
Thất nghiệp cao tác động tiêu cực tới tiêu dùng nội địa, từ đó khiến GDP của nước này suy giảm. Doanh số bán lẻ tháng 3 tại Tây Ban Nha sụt giảm mạnh nhất trong vòng 2 năm.
3. Hy Lạphttp://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bd/83/64/3_greece.jpgTỷ lệ thất nghiệp 2011: 17,7%
Tăng trưởng GDP 2011: -6,9%
Suy thoái kinh tế khiến tỷ lệ thất nghiệp tại Hy Lạp tăng kỷ lục, lên mức 21,7% vào tháng 2 vừa qua. 54% người dân Hy Lạp trong độ tuổi 15 đến 25 không có việc làm. Tổng cộng, có tới 1,1 triệu người thất nghiệp tại quốc gia này, tăng 42% so với hồi tháng 2 năm ngoái.
Nền kinh tế Hy Lạp liên tiếp suy giảm trong 5 năm qua. Thị trường việc làm ảm đạm cộng với việc cắt giảm lương theo chương trình thắt lưng buộc bụng đã khiến người dân nước này tỏ ra bất mãn với chính phủ lâm thời.
Việc cắt giảm chi tiêu ngân sách theo các điều khoản của gói cứu trợ từ Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã gây ra làn sóng giải thể và phá sản trong giới doanh nghiệp. Điều này càng khiến tình trạng thất nghiệp trở nên tồi tệ hơn.
Thất nghiệp và chất lượng cuộc sống suy giảm cũng gây ra nhiều hệ lụy xã hội tại Hy Lạp. Trong nửa đầu năm 2011, tỷ lệ tự tử tại quốc gia này đã tăng 40% so với cùng kỳ năm trước.
4. Irelandhttp://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bd/83/64/4_irelandi.jpgTỷ lệ thất nghiệp 2011: 14,4%
Tăng trưởng GDP 2011: 0,7%
Năm 2011, Ireland chứng kiến sự suy giảm mạnh của ngành dịch vụ và tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao nhất trong 20 năm, cao hơn gấp đôi so với Đức – nền kinh tế lớn nhất tại eurozone.
Trong tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp tại nước này là 14,5%, tăng vọt so với mức 4,5% của năm 2007. Nhiều công ty phải sa thải nhân viên ồ ạt. Điển hình phải kể đến Ngân hàng Trung ương với hơn 1.000 nhân viên bị sa thải. Tính đến cuối năm 2011, ngân hàng này chỉ còn 13.200 nhân viên, giảm từ 16.000 người hồi cao điểm bong bóng bất động sản năm 2008.
5. Bồ Đào Nhahttp://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bd/83/64/5_portugal.jpgTỷ lệ thất nghiệp 2011: 12,7%
Tăng trưởng GDP 2011: -1,5%
Năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp của Bồ Đào Nha là 12,7%. Tuy nhiên, con số này đã tăng lên mức kỷ lục 14,9% trong quý I/2012 khi nước này lâm vào suy thoái kinh tế tồi tệ nhất kể từ những năm 1970. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ cũng tăng lên 36,2%.
Khủng hoảng nợ công khiến nhiều ngành công nghiệp của nước này bị ảnh hưởng nghiêm trọng, điển hình là ngành công nghiệp đóng tàu một thời bùng nổ. Những biện pháp thắt lưng buộc bụng khắc khổ của chính phủ Bồ Đào Nha theo các điều khoản của gói cứu trợ 116 tỷ USD từ EU và IMF khiến thị trường việc làm trở nên ảm đạm hơn.
6. Iranhttp://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bd/83/64/6_iran.jpgTỷ lệ thất nghiệp 2011: 11,5%
Tăng trưởng GDP 2011: N/A
Các biện pháp cấm vận của phương tây cộng với việc sản lượng dầu mỏ sụt giảm khiến nền kinh tế Iran bị ảnh hưởng nghiêm trọng và thị trường việc làm cũng chịu chung số phận.
Theo chính quyền Iran, khoảng 15% lực lượng lao động nước này không có việc làm. Tuy nhiên, trên thực tế con số này còn lớn hơn do nhiều việc làm chính thống không trả đủ lương cho người lao động sinh sống.
Theo Trung tâm Điều tra dân số Iran, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm lao động dưới 25 tuổi là 29,1%, nhưng giới phân tích cho rằng con số thực tế phải gấp đôi. Theo Bộ trưởng Lao động Iran, cử nhân đại học tại nước này có nguy cơ thất nghiệp cao gấp 10 lần so với những người có trình độ thấp hơn.
7. Colombiahttp://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bd/83/64/7_columbia.jpgTỷ lệ thất nghiệp 2011: 10,8%
Tăng trưởng GDP 2011: 5,9%
Kể từ khi chính phủ Colombia kiểm soát được nội chiến và lực lượng nổi dậy, kinh tế nước này tăng trưởng nhanh chóng. Tuy nhiên, Colombia vẫn có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong khu vực châu Mỹ Latinh.
Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp năm 2011 của nước này đã giảm xuống còn 10,8% từ mức 11,8% của năm 2010, con số này vẫn cao hơn 2 điểm phần trăm so Venezuela, nước đứng thứ hai trong khu vực về tỷ lệ lao động không có việc làm. Trong tháng 3 vừa rồi, tỷ lệ thất nghiệp tại thủ đô Quibdo của Colombia lên tới 19,1%.
Tháng 12/2011, chính quyền Colombia đặt mục tiêu thất nghiệp ở mức 8,5% vào năm 2014 bằng việc thực hiện giảm thuế bảng lương cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để kích thích tuyển dụng nhân viên. Tuy nhiên, IMF cho rằng trở ngại lớn nhất cho thị trường việc làm chính thống tại Colombia là mức lương tối thiếu tương đối cao. Năm 2010, chính phủ nước này đã tăng 4% mức lương tối thiểu, lên 300 USD một tháng sau khi tỷ lệ lạm phát lên tới 3,1%. IMF cho rằng mức lương tối thiểu cao khiến cho chi phí lao động tại Colombia ở mức cao.
8. Thổ Nhĩ Kỳhttp://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bd/83/64/8_turkey.jpgTỷ lệ thất nghiệp 2011: 9,8%
Tăng trưởng GDP 2011: 8,5%
Dù đạt được mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong suốt 10 năm qua, thị trường lao động của Thổ Nhĩ Kỳ lại khá ảm đạm. Từ năm 2002 đến 2005, tăng trưởng kinh tế nước này vượt mức 7% nhưng tỷ lệ thất nghiệp lại luôn ở quanh ngưỡng 10%.
Theo chuyên gia kinh tế Rauf Gonec thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nguyên nhân chính của tình trạng này là việc nhiều người lao động rời bỏ khu vực nông nghiệp và đổ xô tới các thành phố. Trong khi nền kinh tế ngày càng cần những công việc đòi hỏi tay nghề cao thì lực lượng lao động trình độ thấp tại Thổ Nhĩ Kỳ lại chiếm đa số.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỷ lệ thất nghiệp trong lao động trẻ tại nước này có xu hướng giảm, từ mức 17,1% vào tháng 12/2007 xuống còn 15,4% vào tháng 3/2012.
9. Hà Lanhttp://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bd/83/64/9_poland.jpgTỷ lệ thất nghiệp 2011: 9,6%
Tăng trưởng GDP 2011: 4,3%
Trong tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp tại Hà Lan lên tới 12,6%, dù đã giảm 0,3% so với tháng 4 nhưng vẫn cao hơn nhiều so với mức 9,6% của năm 2011. Theo một nghiên cứu mới đây của OECD, cứ 5 lao động trẻ Hà Lan thì có một người không có việc làm. Trong tháng 3 vừa rồi, tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm lao động trẻ lên tới 26,7%, tăng vọt so với mức 18,5% vào tháng 12/2007.
Góp thêm vào sự ảm đạm của thị trường việc làm tại nước này, mới đây, hãng sản xuất thép hàng đầu thế giới công bố sẽ sa thải nhân viên hàng loạt tại khu vực tây Âu, trong đó có 1.000 lao động Hà Lan. Thất nghiệp và lương thấp khiến người lao động Hà Lan đổ xô sang các nước như Đức và Áo. Năm 2011, mức lương trung bình tháng tại Hà Lan là 1.215 USD, chỉ bằng một phần ba so với tại Đức.
10. Pháphttp://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bd/83/64/10_france.jpgTỷ lệ thất nghiệp 2011: 9,3%
Tăng trưởng GDP 2011: 1,7%
Tỷ lệ thất nghiệp năm 2011 của Pháp là 9,3%, nhưng hiện nay con số này đã tăng lên 10%, cao nhất trong 13 năm. Chính phủ nước này đang ra sức ngăn chặn việc giải thể trong các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Tổ chức công đoàn Pháp mới đây cũng yêu cầu tổng thống Hollande có biện pháp ngăn chặn việc hơn 45 doanh nghiệp lớn đóng cửa, có nguy cơ khiến 90.000 lao động mất việc. Theo tổ chức này, những doanh nghiệp đang có kế hoạch đóng cửa nhà máy gồm có PSA Peugeot Citroen, General Motors và hãng bán lẻ Conforama.

Tuyến Nguyễn

unicorn
21-Jun-2012, 12:58 PM
TT - Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cảnh báo khủng hoảng kinh tế toàn cầu sẽ khiến 75 triệu lao động trẻ từ 15-24 tuổi, tương đương 12,7% lao động trên toàn thế giới, thất nghiệp trong năm 2012.




http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=566401


Một cô gái trẻ ở Mỹ cầm tấm bảng: Hãy thuê tôi đi! - Ảnh: Mscareergirl



Theo ILO, số lao động thất nghiệp năm 2012 tăng hơn 4 triệu người so với năm 2007, gần chạm kỷ lục 75,4 triệu người trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2009. ILO dự báo tình trạng trên sẽ kéo dài đến năm 2016.
Năm 2011, tỉ lệ thất nghiệp của giới trẻ vào khoảng 12,6%. Trong đó, các nước Bắc Phi đạt mức kỷ lục 27,9% do bất ổn chính trị khi phong trào “Mùa xuân Ả Rập” lan rộng. Tại Trung Đông, tỉ lệ này là 26,5%, châu Âu 17,6%, khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương khoảng 13,5%. Tại khu vực Đông Á, tỉ lệ thất nghiệp của giới trẻ cao gấp 2,8 lần người lớn tuổi.
“Khủng hoảng thất nghiệp ở giới trẻ chỉ có thể bị đẩy lùi khi các chính phủ và các công ty tư nhân ưu tiên tạo công ăn việc làm cho thanh niên” - chuyên gia ILO Jose Manuel Salazar-Xirinachs nhận định.
ĐÔNG PHƯƠNG (Theo AP)

unicorn
21-Jun-2012, 01:00 PM
(VEF.VN) - Thông tin về tình hình người lao động khó tìm việc làm và số lượng lớn các DN đã và đang buộc phải giải thể, phá sản ảnh hưởng trực tiếp đến công ăn việc làm của đội ngũ lao động đang có việc làm cũng như lực lượng lao động bổ sung hàng năm.Ước tính con số thất nghiệp
Thông tin về con số thống kê với 79 ngàn doanh nghiệp giải thể và phá sản, và có thể tiếp tục có thêm rất nhiều doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặc giải thể trong năm nay, trong đó có cả các doanh nghiệp lớn bên cạnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) làm tăng nguy cơ thất nghiệp cho người lao động trên diện rộng với phạm vi cả nước.
Chỉ ước tính riêng con số mỗi doanh nghiệp có thể có ít nhất 5-10 lao động thì con số người lao động mất việc đã có thể là hơn nửa triệu người!
Nếu tạm tính thu nhập bình quân tại các doanh nghiệp này là 3 triệu đồng/người/tháng thì con số thu nhập mất đi của nửa triệu lao động sẽ là 1.500 tỷ đồng/tháng; tức khoảng 75 triệu USD thu nhập hàng tháng của nửa triệu người lao động đã và đang bị mất đi.
Những người này vẫn phải ăn uống, tiêu dùng khoảng chừng đó tiền cho các chi tiêu tối thiểu hàng tháng, mặc dù đang thất nghiệp, thì số tiền chi phí cơ hội mất đi hay số lượng của cải vật chất không được làm ra thêm mà phải tiêu tán đi, sẽ còn tăng thêm nữa. Nói cách khác, thiệt hại có thể lên tới hàng trăm triệu USD mỗi tháng và đạt con số tỷ USD một năm!
Thiệt hại này có thể sánh với các thiên tai, địch họa lớn như bão lụt, sóng thần hay các tai nạn hàng không rơi máy bay, các vụ tai nạn giao thông lớn cướp đi hàng chục ngàn sinh mạng hàng năm tại nước ta!
Những con số rất đáng suy nghĩ và thật đáng sợ!


http://vef.vn/assets/images/laodong4.4_13335264871_1333526487.jpg


Có việc làm như thế này là niềm mong ước của nhiều người hiện nay.


Gánh nặng dồn lên xã hội
Chưa kể, sinh viên ra trường và rủi ro thất nghiệp. Hàng năm chúng ta có thêm hơn một triệu thí sinh thi tốt nghiệp trung học phổ thông, nếu chỉ có khoảng một nửa số này vào được đại học và trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề thì số người trẻ 18-20 tuổi còn lại sẽ tham gia vào lực lượng lao động phổ thông gia tăng thêm hàng năm. Rồi còn lực lượng lao động do gia tăng dân số cơ học hàng năm (tỉ lệ sinh khoảng 1,87 trẻ em/1 phụ nữ) ngoài lực lượng lao động phổ thông từ các em tốt nghiệp trung học nhưng không vào đại học, cao đẳng và trường nghề).
Nếu hơn nửa triệu người trẻ tuổi này có được việc làm phù hợp thì tốt biết mấy, ngược lại, nếu họ không tìm thấy việc làm thì có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho xã hội. Các chi phí cơ hội của quốc gia phải trả giá cho việc lãng phí sức lao động có thể tính bằng tiền tỷ USD cho mỗi năm thất nghiệp của lực lượng lao động hùng hậu này.
Ai cũng biết tỉ lệ tội phạm các loại, các tệ nạn xã hội, thường gia tăng nhanh chóng cùng với tỉ lệ thất nghiệp gia tăng tại các quốc gia. Rủi ro này luôn là gánh nặng cho toàn thể xã hội.
Nghe đâu hiện nay, có con số thống kê mới thì có hơn 50% sinh viên tốt nghiệp chưa tìm được việc làm so với con số 73% sinh viên ra trường kiếm được việc làm ngay vào cuối năm 2011 (1).
Trong một góc nhìn khác dành cho các nhà quản trị giáo dục đại học thì nếu chương trình giáo dục đại học hay cao đẳng được tinh gọn, hoàn thiện và rút ngắn còn 2-3 năm như các nước tiên tiến và các nước trong vùng, thay cho 4 năm hoặc 4,5 năm như ở Việt Nam hiện nay thì sẽ tiết kiệm cho xã hội hàng tỉ USD mỗi năm.


http://vef.vn/assets/images/laodong4.4_1333526479.jpg


Số người đăng ký nhận bảo hiểm thất nghiệp đang gia tăng (ảnh NLĐ)


Rõ ràng, khó khăn của doanh nghiệp cũng là khó khăn của người lao động.
Các thông tin về tình hình người lao động khó tìm việc làm và số lượng lớn các doanh nghiệp đã và đang buộc phải giải thể, phá sản cũng phản ánh bức tranh lớn lơn về sự khó khăn đột biến thực sự của các doanh nghiệp như đang trong một cơn bão khủng hoảng kinh tế tài chính, ảnh hưởng trực tiếp đến công ăn việc làm của đội ngũ lao động đang có việc làm cũng như lực lượng lao động bổ sung hàng năm.
Số lượng lao động chịu ảnh hưởng tới chất lượng việc làm hay thất nghiệp có thể lên tới hàng triệu người thì chúng ta không thể xem thường, hoặc chỉ đơn giản yêu cầu doanh nghiệp phải tự cải cách, tự cứu lấy mình, mà cần phải có một kế hoạch đối phó khẩn cấp ở góc độ quản lý nhà nước về kinh tế vĩ mô. Con số thiệt hại ước tính lên tới hàng trăm triệu USD hay hàng tỷ USD mỗi năm không phải chuyện nhỏ!
Nếu từ đây đến cuối năm 2012, con số doanh nghiệp giải thể và phá sản tiếp tục gia tăng nhanh (2) thì số lượng người lao động mất việc, thất nghiệp gia tăng theo, cũng như các sinh viên mới ra trường, lực lượng lao động gia tăng cơ học của quốc gia hàng năm lại càng khó tìm việc!
Một số giải pháp khả dĩ
Cần có các nghiên cứu khẩn trương về thực trạng hoạt động và khó khăn của các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNVVN đồng thời đưa ra các giải pháp khẩn cấp giải quyết nhanh các tồn tại hiện nay. Các kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp như giảm lãi suất cho vay, miễn giảm các sắc thuế cho doanh nghiệp gặp khó khăn, có các gói cho vay ưu đãi doanh nghiệp thực sự đến tay đối tượng cần giúp đỡ.
Tránh tình trạng hô khẩu hiệu, thiếu thực tiễn, không khả thi như Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại hô hào hạ lãi suất nhưng thực tế lãi suất cho vay cho tới nay vẫn xấp xỉ 20%/năm cho các DNVVN! Hoặc một số lời an ủi, xoa dịu nhau rằng đây là cơ hội tốt để doanh nghiệp chuyển mình, tái cấu trúc .v.v. vì thực ra sự lãng phí hay kém hiệu quả và cần thiết tái cấu trúc khẩn cấp đang nằm ở hệ thống doanh nghiệp nhà nước (DNNN) như nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra, cũng như các vấn đề của DNNN và DNVVN là tương đối khác nhau.
Cũng như bệnh nào của bệnh nhân nào phải cho thuốc điều trị tương ứng, chẩn đoán bệnh sai hoặc cho duy nhất mỗi một phương thuốc cho mọi bệnh nhân cùng uống, sẽ dẫn đến việc phương thuốc không đúng với bệnh và tình trạng bệnh sẽ tất yếu nguy hiểm hơn.
Kế đến, cần đồng thời có các nghiên cứu về thực trạng đời sống lao động, tình hình lao động thất nghiệp mới nhất, với các con số thực sát với tình hình thực tế. Cần tìm hiểu đâu là nguyên nhân thực sự của tình hình hiện tại. Từ đó, có các kế hoạch cứu trợ nhanh chóng cho người lao động bên cạnh các chính sách an sinh xã hội, chính sách trợ cấp thất nghiệp đang từng bước hoàn thiện.
Thêm vào đó, các mục tiêu tạo thêm số lượng công ăn việc làm mới cho người dân, cần được xem như một tiêu chí hàng đầu để thẩm định năng lực làm việc của các quan chức do "dân cử, dân bầu" hoặc "Đảng cử, dân bầu". Ví dụ, khi một ứng cử viên cho một chức vụ nào đó ở cấp chính quyền địa phương hoặc trung ương, hay hội đồng nhân dân các cấp, thiết nghĩ cũng nên gắn với một tiêu chí quan trọng bậc nhất là người đó có thể có khả năng tạo ra được bao nhiêu công ăn việc làm cho địa phương mình ứng cử trong nhiệm kỳ công tác, bên cạnh các tiêu chí quan trọng khác.
Một góc nhìn bổ sung khác là làm sao giảm được số người thất nghiệp phải đi bán vé số dạo, không kể số người già, tàn tật và trẻ em nghèo, hoàn cảnh đặc biệt phải bán vé số và ăn xin, họ không có khả năng lao động và cần sự trợ giúp của chính sách an sinh xã hội quốc gia; vì có lẽ không có quốc gia nào có đội ngũ bán vé số dạo đông như nước ta hiện nay!
Sau cùng, việc gì cũng phải có ai đó, cơ quan nào đó, có nghĩa vụ và quyền lợi, có địa chỉ cụ thể và chấp nhận chịu trách nhiệm cá nhân, từ việc ra các chính sách công đúng hay sai gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp, cho tới chịu trách nhiệm về tỉ lệ thất nghiệp tăng giảm hàng năm, chúng ta mới có các quyết sách phù hợp cho tình hình khẩn cấp như hiện nay.
Vì nên nhớ, chúng ta đã mất tiền tỷ USD các chi phí cơ hội do thất nghiệp rồi và sẽ có thể tiếp tục mất thêm nữa trong năm nay và những năm tới!